Hơn cả bạc vàng

Hơn cả bạc vàng

“Hơn cả bạc vàng” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, trân trọng kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Trong gian nhà được coi là gian nhà thờ của đại gia đình, nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn còn lưu giữ một chiếc cân tiểu ly nhà nghề khi xưa mà cụ hàng coi là một thứ kỷ vật giàu ý nghĩa.

Dường như cụ muốn nhắc nhủ các cháu con hãy luôn giữ một tấm lòng ngay thẳng, trung thực trong nghề nghiệp cũng như trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày. Chữ "Tín" trong nghề vàng bạc mới là chữ đáng coi trọng nhất.

undefined
Hà Nội bảo tồn nghề vàng bạc

Thoạt nhìn, đôi vợ chồng người thợ kim hoàn Tân - Dung ở nhà số 10 phố Hàng Bạc nom có vẻ như không cân xứng tuổi tác. Khách vào nhà, có người gọi vợ là chị mà lại gọi chồng là bác. Nhưng rồi có sao, ba mươi năm qua họ vẫn chung sống thuận hoà, ấm êm bên nhau, sinh con, nở cháu, làm ăn phát đạt, tấn tới.

Người góp công đầu tác thành nên đôi, nên lứa cho anh và chị chẳng phải đâu xa. Đó chính là ông thầy dạy nghề của anh. Và ông cũng chính là bố đẻ của chị. Ông là nghệ nhân kim hoàn Nguyễn Văn Mẫn. Cái lý mà ông kén rể khi xưa, thật rất giản dị:

- Anh ấy tuy hơi lớn tuổi, song người thật thà, trung hậu, lại giỏi tay nghề nhất trong số thợ cùng lứa. Bởi vậy, không những con mà cha mẹ và các em cũng có thể nhờ cậy. Cha chỉ luôn mong điều tốt cho các con. Trong cuộc đời làm nghề bao năm, chẳng những anh chị Tân

- Dung đã học được ở người cha, người thấy của mình những kỹ xảo của nghề kim hoàn, mà còn học được ở ông những phẩm cách cao quý của người thợ chân chính, cũng như trách nhiệm và bồn phận nhất thiết của một con người trong gia đình và ngoài xã hội.

Bà Nguyễn Thị Hạnh, con gái phố Hàng Mắm làm dầu phố Hàng Bạc là một trong những người hàng xóm đồng thời là khách hàng của hiệu vàng Tân Dung rất tín nhiệm tay nghề và phong cách giao tiếp của ông chủ:

- Ông Tân làm hàng rất khéo, vào diện thợ cao tay nghề ở phố Hàng Bạc này. Ông ăn nói lại rất nhỏ nhẹ, từ tốn, khiêm nhượng. Ai ai cũng yêu quý, tín nhiệm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn vốn quê gốc ở làng nghề chạm bạc Đồng Xâm, Thái Bình. Song gia đình ông đã sinh sống và lập nghiệp gần nửa thế kỷ trên đất Hà Nội, tại chính dãy phố Thịnh Yên này. Vào những năm dưới chế độ bao cấp đầy gian nan, khó khăn, nhà nước quản lý ngặt nghèo, biết bao thợ kim hoàn đã phải bỏ nghề. Song ông thì như một số đồng nghiệp giàu tâm huyết, vẫn âm thầm, đau đáu giữ nghề. Ông còn hơn người là ở chỗ, đã kiên nhẫn, bền bỉ truyền nghề cho tất cả tám đứa con trai gái trong nhà, bất chấp bao khúc thăng trầm thế sự. "Hoàng thiên bất phụ hảo nhân tâm" - Ông trời chẳng phụ người có lòng, đến bây giờ, chẳng có gia đình thợ kim hoàn nào ở Hà Nội được như ông, cả tám người con đều đã phương trưởng và hiện đang làm chủ tám cửa hiệu kim hoàn lớn nhỏ trên các phố.

Ở tuổi ngoại tám mươi, nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn đã từ lâu rời xa chiếc bàn nghề xưa cũ. Nhưng lâu lâu, ông vẫn giữ thói quen đi lại thăm thú lần lượt các cửa hiệu vàng của tám người con. Ông thường đi bộ, nói là để rèn luyện cho khoẻ đôi chân. Nơi mà ông thường đến thăm nhiều nhất là cửa hiệu vàng mang tên Đức Hạnh, nằm trên phố Nguyễn Công Trứ, rất gần với khu chợ Thịnh Yên. Đó là cửa hiệu được khách nhất trong số tám cửa hiệu của gia đình. Mái tóc bạc phơ của nghệ nhân nghiêng ngiêng bên chiếc tủ hàng ngồn ngộn, lóng lánh, đỏ rực những dây chuyền, hoa hột, nhẫn vòng theo đủ các kiểu dáng cổ điển hay hiện đại. Đôi mắt già nua nhưng hãy còn khá tinh tường đang xem xét, phẩm bình chiếc lắc vàng mười vừa kịp rời ngọn lửa đèn nghề trong tay cậu thợ trẻ. Chỉ cần quan sát gương mặt của cha và độ giãn nở của đôi lông mày bạc trắng, là cô con gái yêu Nguyễn Thị Hạnh đã có thể hiểu được mức độ hoàn mỹ của một sản phẩm mới:

- Cha tôi rất nghiêm khắc, rất cẩn thận. Hàng vàng bạc quý giá lại cần được chế tác tỉ mỉ, tinh tế. Sai lệch tý ty thôi cụ cũng bắt làm lại. Kỳ bao giờ được như ý mới thôi. Khách hàng hài lòng là ở chỗ đó.

Tất cả các cửa hiệu kim hoàn của các con, ông đều chọn lấy chữ Đức đặt làm đầu. Đức Hạnh, Đức Thành, Đức Thịnh... ý là để khuyên nhủ các con giữ lấy chữ đức làm gốc là trước nhất. Bà chủ hiệu vàng Đức Thịnh và khách sạn Đức Thịnh trên phố Mai Hắc Đế chính là một trong số sáu cô con gái của nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn. Chị Nguyễn Thị Phương kinh doanh ổn định, chắc chắn, nhà cửa khang trang, đàng hoàng, con cái ngoan ngoãn, học hành tấn tới. Chị coi đó là nguồn hạnh phúc to lớn không dễ có. "Uống nước nhớ nguồn", mang nặng tấm lòng tri ân với cha mẹ, với quê hương, bản quán, với nghề tổ cha ông, chị thường không quên việc thăm nom, giúp đỡ gia đình, họ hàng và thường dành những khoản tiền đáng kể để đóng góp công đức cho các di tích văn hoa, lịch sử và các hoạt động nhân đạo xã hội. Ngay từ những năm chín mươi của thế kỷ trước, chị đã là một trong những người đầu tiên tham gia vào chương trình Địa chỉ cho những tấm lòng từ thiện của Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội và là một trong những hội viên tích cực của Hội Tán trợ chữ thập đỏ phường Bùi Thị Xuân, quận Hai Bà Trưng. Mỗi năm, tuy không nhiều, nhưng gia đình chị cũng dành dăm ba triệu đồng cho các việc công đức, từ thiện. Noi gương mẹ, cô con gái đầu lòng đang học lớp 11 Trường trung học phổ thông Trần Phú của chị mỗi tháng cũng đã dành vài ba chục ngàn đồng tiền tiết kiệm để giúp đỡ bạn nghèo trong lớp mua sách vở.

Ngày đầu xuân năm mới, nơi mà bà chủ hiệu vàng Đức Thịnh chọn đến thăm và tặng quả từ thiện chính là nhà nuôi trẻ mô côi của quận Hai Bà Trưng, Mi ăn liền, bánh kẹo, sách vở và tiền mặt. Những món quà bé nhỏ nhưng thắm đượm nghĩa tình lá lành đùm lá rách. Bác sĩ Nguyễn Kim Chung, Phó chủ tịch Hội chữ thập đỏ Hà Nội luôn bày tỏ sự khuyến khích, động viên những gia đình như vậy:

- Cha mẹ làm việc từ thiện thường xuyên thì quá tốt rồi. Nhưng gieo mầm thiện cho cháu con theo được lâu bên mới là điều đáng quý. Ước sao thủ đô mình ngày một có thêm những gia đình thiện nguyện nhiệt tâm như thế.

Cuộc sống hằng ngày không phải bao giờ cũng dễ dàng, trôi chảy. Trong nhà, chồng bát cũng có khi xô. Nhưng cái chính là luôn phải giữ cho gia đình, và nhất là cho cha mẹ già một không khí nhẹ nhõm, thoải mái. Một bát cháo nóng, một ấm trà ngon, nhà nào mà không sẵn. Nhưng "miếng trầu không nặng, nặng hai tay bưng". Người con dâu của cụ Mẫn rất thấu hiểu điều này. Xưa kia, người Hà Nội từng có ấn tượng không hay với thành ngữ: "dân chợ Trời". Nhưng ở đâu cũng vậy, và thời nào cũng vậy, một nếp nhà vững chãi, luôn là chỗ dựa tinh thần cho tất thảy các thành viên trong gia đình. Càng trong những hoàn cảnh bất lợi, thì những phẩm chất tốt đẹp càng thêm tỏả rạng. Làm dâu trưởng trong một gia đình đông anh em chồng mà bao năm không hề có chuyện xô sát, điều tiếng ầm ĩ, phải chăng chỉ do từ một phía? Người con dâu cụ Mẫn là Nguyễn Thị Giới đã chia sẻ một cách giản dị:

- Tôi may mắn được làm dâu trong một gia đình nề nếp, các em cũng đều là người dễ dãi, biết điều, nên gia đình khi nào cũng giữ được bầu không khí thân mật và thoải mái. Chứ thật thà mà nói thì tôi cũng không được khéo léo đảm đang như nhiều người đầu.

Còn ông cụ bố chông thì lúc vắng mặt, vẫn khen cô con dâu:

- Chị ấy đã được ông bà nhạc dạy dỗ cẩn thận. Ăn ở cũng mộc mạc, chân tình. Bởi thế mà từ khi chị ấy về làm dâu cho đến nay đã hơn hai chục năm mà chưa hề phải nghe tôi và bà nhà tôi nói nặng một lời.

Giờ đây, chợ Hoa Bình đã khác xa chợ Trời xưa. Việc kinh doanh, buôn bán tự do, đường hoàng theo cơ chế kinh tế đổi mới đã khiến cho nếp giao tiếp, ứng xử của người dân nơi đây ngày một hòà đồng với cả xã hội. Vả lại, quan niệm chung của xã hội về nghề buôn bán, thương mại cũng không còn hẹp hòi và một chiều như trước. Gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn cũng là một trong số các gia đình gương mẫu đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa nhiều năm liên tục của khu vực dân cư phố Thịnh Yên.

Trong gian nhà được coi là gian nhà thờ của đại gia đình, nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn còn lưu giữ một chiếc cân tiểu ly nhà nghề khi xưa mà cụ hằng coi là một thứ kỷ vật giàu ý nghĩa. Dường như cụ muốn nhắc nhủ các cháu con hãy luôn giữ một tấm lòng ngay thẳng, trung thực trong nghề nghiệp cũng như trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày. Chữ "Tín" trong nghề vàng bạc mới là chữ đáng coi trọng nhất.

Trong cửa hiệu nhà dưới, bà khách hàng quen người bên phố Huế đang ngắm nghía mấy mẫu kiềng vàng, lắc vàng tươi cười vui vẻ:

- Tôi buôn bán nhỏ. Cứ chắt bóp được ít tiền là lại ra hàng cụ mua một vài chỉ vàng cất đi dành dụm. Bây giờ lại mua của con trai con dâu cụ. Cân lượng đầy đủ chả bao giờ phải lo nghĩ. Hôm nay tôi đang định đặt bộ vòng kiềng với lắc tay để sang tháng cho con gái đi lấy chồng. Mấy mẫu đều đẹp, đâm ra hơi khó chọn,

Lứa cháu chắt của cụ giờ đây cũng không hoàn toàn theo nghề cha ông. Chúng cũng có những ước mơ mới và những sự lựa chọn mới. Những kỷ vật của ông bà, chúng có thể coi như là trong những câu chuyện cổ tích. Nhưng mà có rất nhiều thứ trong ngôi nhà này vẫn luôn hấp dẫn và thu hút chúng, cho tới tận mai sau. Phải chăng, đó cũng chính là những bảo vật vô hình mà có thể, còn quý giá hơn cả bạc vàng? Cô cháu ngoại của cụ Mẫn tên là Nguyễn Thị Ngọc Hà, hiện đang là sinh viên trường Đại học khoa học xã hội nhân văn thỏ thẻ tâm sự:

- Từ khi cháu còn nhỏ vẫn thường thích sang chơi bên ông ngoại, nghe ông đọc Truyện Kiều, nghe ông kể chuyện quê hương với nghề chạm bạc mà ông và các cậu các di, các bác trong nhà theo đuổi. Cả những câu chuyện về đường ăn ý ở của người con gái trong gia đình phải như thế nào? Cháu rất yêu kính ông bà.

Ngày mồng chín tháng Giêng hàng năm là một trong nhưng ngày mà lão nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn hằng mong mỏi nhất. Ấy chính là ngày hội của làng Thịnh Yên, ngày hội chùa Vua. Vào ngày này, dù không lời hẹn trước, các thế hệ trong gia đình nghệ nhân đều tụ hội về bên người ngôi nhà cha mẹ. Bao giờ cũng vậy, lão nghệ nhân sẽ dẫn đầu cả một đoàn con cháu quần trắng áo dài rực rỡ, complett cavat thịnh soạn sang chùa lễ Phật và xem đấu cờ người, một trò vui đặc biệt của hội làng Thịnh Yên. Tiếng trống hội thì thùng lắc cắc sao mà thân thiết và thiêng liêng và ấm lòng đến vậy.

Cuộc cờ người thu quân, cha con lại cùng nhau trở về gian nhà thờ trên căn gác hai, làm lễ kính cáo tổ tiên. Trong làn khói hương trầm nồng ấm, thêm một lần niềm tự hào của nghề tổ được nhắc nhớ, thêm một lần tình gia tộc được thắt chặt. Thiêng liêng và bình dị biết bao. Bên ngoài khung cửa, trên dãy phố Thịnh Yên, một mùa lộc biếc lại dâng đầy trên những cây cơm nguội gốc xù xì sẵm màu năm tháng.

Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Hành trình đi tìm ngọc

Hành trình đi tìm ngọc

“Hành trình đi tìm ngọc” là nội dung bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, trân trọng kính mời quý vị cùng lắng nghe bài viết.

Bài viết:

Hàng trăm câu ca dao, ngạn ngữ được tập hợp trong hai cuốn sách đã trở thành bộ tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm của đất nước và con người Hà Nội. Chúng tỏ ra vô cùng hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học, lịch sử, địa lý và các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn của giáo viên và học sinh các cấp, đặc biệt là ở bậc đại học. Tuy nhiên, bao năm chiến tranh, giặc giã, các điều kiện nghiên cứu, sưu tầm tập hợp còn rất sơ sài, thiếu thốn. Bởi vậy chúng ta khó có thể đòi hỏi một kết quả khả dĩ hơn.

Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Châm vốn không phải là người gốc Hà Nội. Chị sinh ra và lớn lên trên một miền quê thuộc xứ Kinh Bắc xưa. Duyên may đưa chị đến với công trình nghiên cứu về phong cảnh Hà Nội qua những câu ca dao ngạn ngữ có lẽ bắt đầu từ cách đây gần chục năm, khi chị đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi văn toàn quốc cấp phổ thông trung học. Đề bài là bình giảng câu ca dao: Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Trấn võ, canh gà Thọ Xương / Mịt mù khói tỏả cành sương / Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Sau này, khi trở thành một cán bộ nghiên cứu khoa học ở Viện Văn hóa dân gian, chị đã dành nhiều tâm sức cho công trình nghiên cứu ca dao ngạn ngữ Hà Nội về đề tài phong cảnh, con người Hà Nội. Và chính bằng công trình ấy, chị đã được trường đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia chọn mời thỉnh giảng thường kỳ hàng năm cho sinh viên ở bộ môn văn hóa cơ sở. Càng say mê theo đuổi công trình, chị càng phát hiện thêm những vẻ đẹp khôn cùng của ca dao ngạn ngữ Hà Nội. Đâu chỉ là phong cảnh thiên nhiên hữu tình, danh lam thắng tích đậm đặc, cổ kính, thiêng liêng mà còn là tình người Hà Nội thiết tha, nồng đượm: Sông Tô nước chảy trong ngần / Có con thuyền trắng chạy gần chạy xa / Thon thon đôi mái chèo hoa / Lướt qua lướt lại như là bướm gieo.

Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Chu Hà đã bước vào tuổi xấp xỉ chín mươi. Lưng ông còng còng, trĩu nặng gánh thời gian song xem ra dáng đi còn mau mắn, nhanh nhẹn, đôi mắt tinh anh, hiền từ. Ông là người gốc Ý Yên, Nam Định nhưng sinh sống ở Hà Nội đã gần sáu mươi năm, nhà ở phố Hàng Bột cũ nay là phố Tôn Đức Thắng. Nhà thơ Chu Hà là cán bộ cựu trào của ngành văn hóa thông tin Hà Nội. Lãnh vực nghiên cứu mà ông chuyên sâu và dày công nhất chính là hát ca trù - hát ả đào. Bao câu hát ca trù đẹp như những áng thơ đã được ông sưu tầm, ghi chép và truyền lại cho lớp trẻ. Nhưng công trình mà ông tâm đắc nhất là ông đã cùng nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Tuấn Sán, người làng Lủ, thuộc xã Đại Kim, huyện Thanh Trì và hai nhà giáo là Phạm Hòa (trường phổ thông trung học Việt Đức) và Triêu Dương (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1) cùng tham gia sưu tầm và soạn thảo hai tập Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, từ những năm sáu mươi, bẩy mươi của thế kỷ trước.

Phạm vi đề cập của hai cuốn sách đó thật rộng lớn. Nào là ca dao ngạn ngữ về đề tài lịch sử, văn hóa danh lam, thắng cảnh, di tích, sản vật, con người, nghề nghiệp, phong tục, tập quán, lễ hội, phong cách ứng xử gia đình, xã hội... Hàng trăm câu ca dao, ngạn ngữ được tập hợp trong hai cuốn sách đã trở thành bộ tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm của đất nước và con người Hà Nội. Chúng tỏ ra vô cùng hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học, lịch sử, địa lý và các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn của giáo viên và học sinh các cấp, đặc biệt là ở bậc đại học. Tuy nhiên, bao năm chiến tranh, giặc giã, các điều kiện nghiên cứu, sưu tâm tập hợp còn rất sơ sài, thiếu thốn. Bởi vậy chúng ta khó có thể đòi hỏi một kết quả khả di hơn. Bây giờ, nói sao thì nói, đã ở tuổi gần đất, xa trời, nhà thơ Chu Hà không khỏi có những điều thật ngậm ngùi, tiếc nuối:

- Hồi Mỹ đánh bom Hà Nội. Nhà ngày ấy chẳng có gì gọi là đáng giá. Chỉ có tập vở tôi ghi chép những câu ca dao, ngạn ngữ mới sưu tầm được là tôi quý nhất. Liền cho vào cái két sắt cũ của nhà chủ ngày xưa để lại, khóa chặt. Nghĩ thế là chắc chắn nhất.

Không ngờ, sau một đợt đi công tác trở về, lấy ra soạn lại, thì mỗi đã xông mất hết. Tiếc đến bây giờ vẫn chưa nguôi…

Bao điều trăn trở, nhưng ở tuổi xấp xỉ cửu tuần, ông không thể còn xoay xỏa nổi. Nhưng thật may, kế tiếp sự nghiệp của các bậc lão làng, có một người không kém phần tâm huyết. Đó chính là nhà thơ, nhà báo Giang Quân. Ở độ tuổi ngót nghét tám mươi, tóc cũng đã bạc phơ phơ, ông cũng vốn là một cán bộ cựu trào sau lớp cụ Chu Hà của Sở văn hóa thông tin Hà Nội.

undefined
Thủ đô Hà Nội xưa

Ông tham gia nghiên cứu, gắn bó với ca dao, ngạn ngữ Hà Nội đã trên nửa thế kỷ. Hai cuốn sách của các bậc tiền bối đã là cơ cở vững chãi để ông tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm. Bởi kho tàng ca dao, ngạn ngữ của vùng đất đế kinh ngàn năm này thật vô cùng phong phú và giàu đẹp... Biết bao điều còn ẩn chứa trong nhân gian rộng lớn. Cho đến năm tròn tuổi thất thập, ông mới cho công bố một cuốn sách là kết qủa của trên nửa thế kỷ đằng đẳng miệt mài. Cuốn Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ bao gồm 500 câu, như tên gọi của nó, chỉ khuôn đề tài vào một lĩnh vực hẹp hơn, song chính là tập trung hơn, khu biệt hơn và nổi rõ đặc trưng Hà Nội hơn.

Phong cảnh, địa danh, con người, sản vật, nghề nghiệp, lễ hội của vùng đất ngàn năm văn hiến. Nhưng có một phần được bổ sung và chỉnh lý cũng như chú giải kỹ lưỡng hơn. Đặc biệt có tập hợp thêm các câu ca dao ngạn ngữ mới của thời kỳ cận đại và hiện đại của Hà Nội. Một thời gian dài, nhà thơ, nhà báo Giang Quân lại đang tiếp tục sưu tầm, tập hợp thêm trên hai trăm câu ca dao, ngạn ngữ của các vùng nội ngoại thành Hà Nội cho việc tái bản cuốn sách vào năm 2002. Ông coi đây là một công trình không của riêng mình hướng tới dịp kỷ niệm ngàn năm Thăng Long - Hà Nội.

Trong mấy năm rong ruổi khắp các vùng nội ngoại thành, niềm vui lớn nhất của ông là phát hiện được thêm những câu ca dao, ngạn ngữ bao năm còn ẩn dấu trong dân gian, chưa hề được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó là hàng trăm dị bản của các câu ca dao, ngạn ngữ của từng miền quê theo những mô tuýp biến thể cổ truyền. Chuyến về thăm vùng bưởi Diễn cách đây không lâu là một trong những chuyến đi may mắn của ông. Sau đây là mấy câu ca dao, hay chính là những viên ngọc quý mà ông vừa thu lượm trong chuyến đi ấy. Chợ Diễn một tháng sáu phiên / Bưởi vàng trái ngọt ai quên nhớ về.

Và điều tâm đắc nhất của ông là đã sưu tầm được những câu ca dao Hà Nội thời cận đại. Trong đó có những câu ông sưu tầm được chính ở dãy phố Khâm Thiên nơi mà gia đình ông cư trú từ sau ngày giải phóng thủ đô. Nguyên trước cách mạng Tháng Tám năm 45, Khâm Thiên vẫn còn là một phố cô đầu, nhà hát "lừng danh". Dân ăn chơi đất Hà Thành gen gọi là phố "Chị em". Hôm gặp lại nhà thơ Chu Hà, ông đã tủm tỉm đọc cho người đàn anh nghe mấy câu: Tối thì đẹp tựa tiên sa / Ngày nom rũ rượi như gà mắc mưa / Báu gì hương chạ hoa thừa / Thà rằng chẵn lẻ Hai Cua cho rồi.

Và ông nói rằng, thoạt đầu không hiểu chữ Hai Cua là gì. Hỏi ra sau mới biết rằng đó chính là một sòng bạc cũng vào loại "ác chiến" ở phố Khâm Thiên ngày trước. Bên ẩm trà Tàu đặc sánh, câu chuyện của hai bậc lão làng tưởng như khó có chỗ dứt.

Tóc xoã ngang vai xanh mướt, ở tuổi vừa tròn tam thập, may mắn hơn các bậc tiền bối của mình, thạc sĩ Nguyễn Phương Châm bước sang năm đầu thế kỷ mới, đã gấp rút chuẩn bị tài liệu cho luận văn nghiên cứu sinh học vị tiến sĩ cũng xung quanh đề tài Văn hóa tộc người Việt sinh sống trên đất nước Trung Hoa. Nhưng song song cùng với bản luận văn, sẽ vẫn là những bài giảng trên lớp cho sinh viên Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn về đề tài ca dao ngạn ngữ phong cảnh của Hà Nội. Có người từng thắc mắc trên sóng Đài phát thanh - truyền hình Hà Nội rằng: "Sao lại đọc lầm chữ đền thành chữ chùa trong một câu ca dao cũ": Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ / Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.

Thực ra là không lầm đâu! Trong bài giảng sắp tới, cô sẽ chú thích rõ hơn xuất xứ của câu ca dao là từ thời Lê Trịnh. Khi ấy đền Ngọc Sơn vốn còn đang là một ngôi chùa thờ Phật quanh năm nghi ngút khói hương.

Cũng bắt đầu từ thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, khi internet phát triển và bắt đầu từ thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, khi mạng xã hội mở rộng thì đó chính là cơ hội tốt đẹp để nở rộ việc phát lộ và thu thập ca dao, tục ngữ thành ngữ ở các địa phương, kể cả ở các vùng đất thuộc xứ Đoài, Hà Tây xa xôi khi được sáp nhập về Hà Nội. Nhanh nhậy bắt nhịp với nhu cầu tất yếu của thời đại, dăm năm trước, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội do GS - TS Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội và PGS - TS Đỗ Thị Hảo, Phó Chủ tịch Hội kiêm chủ nhiệm đề tài đã đề xuất với Thành phố Hà Nội mở một dự án sưu tầm ca dao tục ngữ mới. Dự án tuy chưa kết thúc nhưng đã thu được những thành quả ban đầu tốt đẹp, thu thập được hàng ngàn câu ca dao tục ngữ ở các địa phương vùng Hà Nội cũ và Hà Nội mở rộng.

Có những câu ca dao xưa chỉ được lưu truyền trong địa vực làng xã bé nhỏ nay đã được đông đảo người dân trong và ngoài nước biết đến. Đơn cử như bài ca dao ca tụng sự chăm chỉ và tài khéo người dân làng nghề bánh gai Yên Sở thuộc vùng kẻ Giá, huyện Hoài Đức: Bánh gai làng Giá thơm ngon / Con gái làng Giá tươi giòn sắc xuân / Giã lá, xay bột chuyên cần / Khéo tay gói bánh người ăn tìm về.

Hay là mấy câu ca dao ở làng bánh gio Đắc Sở cũng thuộc vùng kẻ Giá bên dòng sông Đáy nói về một phẩm chất của đặc sản nổi danh của làng quê: Bánh gio trong hổ phách / Dẫu có đắt cũng mua / Bánh gio màu nước dưa / Dẫu có cho chả đắt.

Một câu ca dao khác của làng nghề bánh dày Quán Gánh, huyện Thường Tín ca tụng giá trị của đặc sản quê hương bằng giải pháp khoa trương đôi khi gặp trong ca dao tục ngữ: Cho dù chồng chán vợ chê / Bánh dày Quán Gánh lại về với nhau.

Nhà thơ Yên Giang vốn là Trưởng phòng Phòng Sáng tác và xuất bản Sở Văn hóa thông tin Hà Tầy và đã từng chủ biên cuốn sách Ca dao tục ngữ Hà Tây dày tới 700 trang. Sau khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, tham gia vào Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội, ông là người rất tích cực và bền bỉ tham gia dự án sưu tầm tục ngữ ca dao mới của Hội văn nghệ dân gian Hà Nội với hàng trăm câu.

Nét đặc biệt trong bộ sưu tập của ông là những câu ca dao tục ngữ mới về để tài phản biện xã hội. Ông rất tâm đắc với quan niệm của người xưa:

Ngày xưa đức Khổng Tử bên Trung Hoa từng khuyên các đấng quân vương nên cử người thâm nhập vào đời sống của người dân mà thu thập những câu ca dao ngạn ngữ, những câu chuyện tiếu lâm có tính giều cợt, chống đối thể chế để từ đó nghiên cứu, phân loại ý kiến đúng sai, rồi nương theo mà sửa đổi chính sách cai trị sao cho hợp lòng dân, cũng là vì sự thịnh trị lâu dài của xã tắc.

Hơn hai mươi năm sau, cô sinh viên cao học Nguyễn Thị Phương Châm ngày nào nay đã trở thành PGS - TS Nguyễn Thị Phương Châm và đã được bổ nhiệm cương vị Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Thật mừng cho Phương Châm nhưng cũng hơi có chút ngậm ngùi khi nghe cô nói lâu rồi không còn giảng dạy hay nghiên cứu đề tài ca dao tục ngữ nói chung và ca dao tục ngữ Hà Nội nói riêng nữa.

Thế gian bao năm biến cải, đổi dời. Chẳng còn đâu nữa bóng dáng những bến trúc Nghi Tàm, rừng bàng Yên Thái, chợ đêm Khán Xuân, sâm cầm hồ Tây... Bao giờ cho nước sông Tô trở lại trong ngần? Nhưng nỗi ao ước của cô giáo trẻ người gốc Kinh Bắc một ngày xa xưa ấy, phải chăng cũng chính là nỗi mong ước đau đáu trong lòng mỗi người dân thủ đô trong hiện tại?

Mong sao các nhà quy hoạch, kiến trúc xây dựng thủ đô dù có kiến thiết, sửa sang, tôn tạo thành phố cho hiện đại, mới mẻ đến như thế nào cũng vẫn nên giữ lại những dáng nét kiến trúc và phong cảnh đặc sắc của đất Kinh kỳ Thăng Long, cho xứng danh là nơi mãi mãi "Lắng hồn núi sông ngàn năm".

Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

Chiếc bình tích đồng thau

Chiếc bình tích đồng thau

“Chiếc bình tích đồng thau” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Khi đỡ chiếc bình trên tay, tôi thấy nó dường như bé hẳn đi so với trí nhớ xưa cũ của mình. Duy chỉ cái hình dáng đặc biệt hệt như một chiếc bánh dày đại trong đám hội làng, là tôi thấy y nguyên. Khắp mình nó đầy vết lồi lõm, sứt võ, dù đã được mợ tôi nhờ người hàn lại bằng những mối hàn thiếc.

Vậy mà trong vệt sáng lung linh, mờ ảo nơi thân bình, tôi như thấy hiện lên hình ảnh của những người đàn bà thân yêu nhất trong cuộc đời tôi nay đều đã khuất xa. Bà ngoại, mẹ tôi, dì tôi, mợ tôi, những người đàn bà, con gái, con dâu của làng nghề đúc đồng cổ xưa, vất vả, tảo tần, thương cháu, yêu con nhất mực.

Nghe tin mơ Liên ra đi đột ngột, Tôi chạy với về 38 phố Hàng Đồng. Lúc ấy mợ đã được đưa sang nhà tang lễ Phùng Hưng. Em Tuyết, cô em con cô con cậu của tôi sụt sùi kể chuyện:

Cho đến lúc mợ tôi đột ngột mắc cơn cảm nặng và lâm vào tình trạng hôn mê, dường như đã vô thức, bà mới chịu rời chiếc bình ủ bằng đồng thau đựng đầy nước nóng, bọc trong mấy lần khăn bông to dày.

Không phải là bởi chiếc bình thật là cao giá. Mà bởi chính là nó thật sự cần thiết cho bà. Mấy hôm ấy, trời Hà Nội đang kỳ rét đậm. Hiếm có đợt rét nào kéo dài như đợt rét đầu tháng giêng năm Tân Tỵ 2001. Đấy chính là chiếc bình ủ bằng nước nóng, thay cho lò sưởi giữ ấm thân thể.

Chiếc bình ấy tôi biết, nó có từ thuở sinh thời bà ngoại tôi, tức là bà mẹ chồng của mợ.

undefined
Bình tích đồng thau

Ngày xưa khi còn nhỏ, mỗi kỳ rét đậm, nhất là trong tiết đại hàn, tôi rất thích được vào ngủ cùng bà ngoại, vì bà thường để chiếc bình ủ ấy trong chăn, ấm ơi là ấm! Có đêm, thấy bà sẽ sàng trở mình, tôi mơ màng tỉnh giấc, thì ra là bà đang gượng nhẹ trở dậy để gỡ bớt một lượt khăn bông quấn bên ngoài chiếc bình, chắc là do nước trong bình đã giảm hơi nóng. Rồi dúi nó lại bên mình tôi, ý là để cho cháu ngoại được ngủ ngon thêm một lát trước giờ đi học.

Khi tôi lớn lên, dì Hai tôi sinh thêm em bé. Mỗi lần trời trở nồm, mưa phùn ẩm ướt, quần áo phơi cách nào cũng không khô, bà tôi liền lấy chiếc bình đồng ấy, đồ đầy nước sôi già, rồi quấn cả đám tã lót ướt của em tôi vòng quanh. Chỉ chừng nửa buổi, gỡ ra là chúng khô cong, thơm phức. Ngày ấy, những năm sáu mươi bẩy mươi của thế kỷ trước, lấy đâu ra lò sưởi điện hay máy sấy như bây giờ.

Đến mùa hạ, khi hoa sen đầu mùa chớm nở, mẹ tôi quen lệ ướp vài ba cân trà mạn để dành tiếp khách. Chiếc bình đồng lại được trưng dụng để sấy trà. Bà cho trà đã rắc gạo sen vào những túi giấy bóng mờ, gọi là giấy nến, dán kín lại. Rồi xếp những túi giấy vòng trong lòng chiếc thúng nan. Đoạn, bà đặt chiếc bình tích đã đổ đầy nước sôi già vào giữa thúng. Ủ thêm mấy tấm khăn bông vải to đùng. Qua một ngày đêm sẽ dỡ trà đem sàng bỏ lớp gạo hoa cũ, thay lớp gạo hoa mới. Cứ dăm lần ướp và ủ như thế mới hoàn thiện một mẻ trà hương. Mẹ tôi bảo rằng, trà sấy cách thuỷ kiểu ấy tuy hơi lâu nhưng bền hương, không dễ khét như trà sấy vội, kiểu sấy điện hay sấy than.

Tôi lớn lên, vào đại học, rồi đi lấy chồng, ra ở riêng. Tôi nhớ, ngày tôi sinh con đầu lòng, cũng vào một ngày tháng mười chớm đông năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Đích thân bà ngoại tôi còn đi xích lô xuống thăm. Tay bà ôm khư khư chiếc bình đồng thau, để cho tôi dùng ủ tã cho chắt ngoại, khiến tôi cảm động vô cùng. Bởi khi ấy, nhà tôi đang gặp hoạn nạn, vợ chồng xa cách, tôi sinh con, nuôi con một mình, hay tủi thân lắm. Sau đó, theo thời gian, cuộc sống khấm khá lên, vợ chồng tôi cũng sắm đủ, nào là máy sấy, lò sưởi điện, máy điều hòa hai chiều.

Tôi dần dần quên bằng chiếc bình đồng cổ. Hình ảnh cuối cùng về nó mà bấy lâu nay, thi thoảng tôi còn nhớ tới, là hình ảnh của bà ngoại tôi, mặc chiếc áo bông dài trần quân cờ, đầu trùm khăn mỏ quạ, tay thu lu chiếc bình ủ, trong một chiều đầu xuân giá lạnh trước khi bà tôi qua đời ít lâu. Ngày ấy thế mà cách đây đã gần bốn mươi năm.

Khi bà tôi khuất núi, chiếc bình được truyền cho cô con dâu, tức là người mợ hiền của tôi. Giữa đất Hà Nội những năm cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ XXI, mà mợ tôi vẫn dùng chiếc bình ủ ấy, bởi vì nhà mợ vốn không dư giả gì. Mà cũng bởi vì nhà mợ đun bếp than suốt ngày, nước non rất tiện. Rồi còn bởi một lý do vô cùng thiêng liêng nữa. Đó là gia đình bên ngoại tôi vốn quê gốc ở làng đúc đồng Bắc Ninh, làng Dí Hạ, tên chữ là làng Đào Viên thuộc xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành. Sau họ tộc theo lên sinh sống và hành nghề ở làng Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, rồi chuyển về ở phố Hàng Đồng mở cửa hàng buôn bán. Có một thời nhà nước quản lý nghiêm ngặt. Nghề đúc đồng và buôn bán đồ đồng bị cấm, gia đình bên ngoại tôi đành phải bỏ nghề trong khoảng vài ba chục năm, mới khôi phục lại cửa hàng, cũng chả dám bày biện to tát gì.

Vào thời buổi khó khăn đó, những món đồ đồng như xanh nồi, đỉnh đèn, lư hương thật là những món đồ cổ quý giá. Chiếc bình đồng cũng vậy. Cậu mợ tôi thi thoảng mua được một mẻ thiếc vụn, đem đúc thành một thoi trên bếp than quả bàng ở sân sau, để bán cho những nhà hàn nồi hàn xoong bên phố Hàng Thiếc, và để hàn chính chiếc bình đồng này những lúc nó không may bị đánh rơi sứt vỡ. Mỗi lúc làm vụng làm trộm một mẻ hàng như thế, cứ phải cài then đóng chặt cửa nhà. Công an mà biết được thì hết đường sống.

Mợ tôi là một người đàn bà phố cổ, nhà ngoại của mợ ngay bên phố Thuốc Bắc. Tên cúng cơm của mợ là Chung. Mãi sau tôi mới biết. Chứ toàn gọi mợ theo tên cậu Liên tôi. Mợ rất đảm đang, chịu khó và nhẫn nhịn. Mợ nhất mực phục tùng và e sợ cậu tôi, một giai phố cổ chính hiệu, con trai duy nhất của ông ký tòa cũ, mà sang thời chế độ mới, thành anh công nhân. Anh công nhân nhưng vẫn không bỏ nếp sống "cậu ấm" cũ. Mợ tự hiểu mà phục vụ. Kể cả suốt một thời chiến tranh bao cấp khó khăn ngặt nghèo, mợ vẫn thổi riêng cho cậu tôi một cái niêu mốt đồng điếu cơm gạo quê.

Còn cả nhà ăn cơm gạo mậu dịch. Cậu tôi dù thời buổi nào cũng giữ thói quen đọc sách và sưu tầm sách. Cậu cần đến tiền mua sách và tiếp đãi trà rượu các bạn bè yêu văn chương, là mợ tôi phải đưa, bất biết nhà thiếu đủ ra sao. Không một câu than thân trách phận.

Nghĩ lại mà thương mợ quá.

Sau này, có lần vào thăm mợ, lúc trà nước rôm rả, tôi vui miệng nói đùa: "Khi nào mợ hai năm mươi, mợ nhớ cho con chiếc bình đồng, còn con không xin gì cả". Thế mà mợ tôi cười, đưa tay vuốt đôi khóe miệng tươi màu nước cốt trầu, hàm răng đen hạt na lấp lánh. Mợ bằng lòng ngay. Bởi vì tôi là một đứa cháu gái rất được mợ yêu quý. Dù hoàn cảnh riêng còn nhiều vất vả, song tôi bao giờ cũng vẫn nhớ qua lại đỡ đần, thăm hỏi mợ và các em tôi, nhất là khi cậu tôi đã sớm đi xa, để lại mợ với gánh nặng nuôi bốn đứa em tôi đang tuổi ăn tuổi lớn, học hành còn dang dở.

Ngờ đâu, mợ tôi đột ngột qua đời, không kịp dặn dò cháu con lấy một lời. Hôm cúng ba ngày mợ, em Tuyết tôi dỡ chiếc bình từ trong bọc khăn bông tưởng còn ấm hơi mợ, dốc nước trong bình cho hết để đưa cho tôi. Nước mắt tôi ròng ròng chảy theo dòng nước trong vắt róc rách tuôn xuống tự cổ bình. Khi đỡ chiếc bình trên tay, tôi thấy nó dường như bé hẳn đi so với trí nhớ xưa cũ của mình. Duy chỉ cái hình dáng đặc biệt hệt như một chiếc bánh dày đại trong đám hội làng, là tôi thấy y nguyên. Khắp mình nó đầy vết lồi lõm, sứt vỡ, dù đã được mợ tôi nhờ người hàn lại bằng những mối hàn thiếc.

Vậy mà trong vệt sáng lung linh, mờ ảo nơi thân bình, tôi như thấy hiện lên hình ảnh của những người đàn bà thân yêu nhất trong cuộc đời tôi nay đều đã khuất xa. Bà ngoại, mẹ tôi, dì tôi, mợ tôi, những người đàn bà, con gái, con dâu của làng nghề đúc đồng cổ xưa, vất vả, tảo tần, thương cháu, yêu con nhất mực.

Tôi đem chiếc bình về nhà, ủ mẻ chua và xin nắm cát đen đánh sạch bóng, lấy rượu thơm tráng lại, đem để cạnh chiếc tráp trâu khảm trai, bịt viền đồng là kỷ vật của mẹ tôi để lại, và những món đồ đồng khác mà tôi đi du lịch các nước mang về, cũng như những tác phẩm đồ đồng mỹ nghệ của các nghệ nhân Hà Nội mà tôi sưu tầm được trong những năm đi làm báo hình tại Đài Hà Nội.

Các con tôi về nhà thấy chiếc bình là lạ, méo mó và xấu xí để trong phòng khách, chúng ngạc nhiên lắm. Bởi vậy tôi đã kể lại chuyện cho chúng nghe. Và đó chính chính là câu chuyện này đây.

Các bạn tôi ơi!

Nội dung bài viết “Chiếc bình tích đồng thau” đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

Phục hồi thú chơi hoa thuỷ tiên

Phục hồi thú chơi hoa thuỷ tiên

“PHỤC HỒI THÚ CHƠI HOA THỦY TIÊN” - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, nguyên Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, Đài PT - TH Hà Nội. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Bài viết:

Khi thuỷ tiên nở hoa, mỗi cụm hoa mang một dáng vẻ khác nhau theo lối đặt tên của các cụ xưa. Dáng phượng múa, dáng rồng bay, dáng hạc chấu, dáng tiên sa... Mỗi cụm hoa thực sự là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn độc đáo của bàn tay người yêu hoa, và là kết quả của nghệ thuật gọt tỉa thủy tiên khởi từ trước đó hàng tháng trời. Chính bởi vậy, người xưa mới ham thích thú chơi thuỷ tiên, thú chơi giàu sáng tạo và giàu tính thẩm mỹ, nghệ thuật.

Thấm thoắt thế là đã gần nửa thế kỷ đã trôi qua, hôm nay cụ giáo Lê Đăng Nghị ở phường Thanh Lương mới được cầm lại trên tay con dao nhỏ thân thiết ngày xưa. Con dao có hình dáng đặc biệt kỳ lạ. Một đầu như chiếc lưỡi rìu nhỏ sắc lẹm, một đầu như lưỡi thuổng tí xíu hình lòng máng. Đó chính là con dao gọt và tỉa thủy tiên chuyên nghệ. Dường như thoáng một nỗi bồi hồi, mong nhớ đang dâng ứ trong đôi khoé mắt và đôi bàn tay của ông lão tuổi ngoại tám mươi khi bỗng dưng chạm vào từng dáng nét của một vẻ đẹp xưa:

Chơi hoa thủy tiên là một thú chơi xuân lâu đời của người Hà Nội. Nhưng trải qua mấy chục năm chiến tranh giặc giã rồi bao cấp khó khăn, thú chơi thủy tiên mai một dần. Rồi sau đó lại xảy chiến tranh biên giới phía Bắc, nguồn củ thủy tiên từ Trung Quốc về Việt Nam không còn. Thế nên coi như đứt đoạn mấy mươi năm trời nay mới bắt đầu nối lại.

undefined
Hoa thủy tiên trắng

Không phải bỗng dưng mà bài viết về "Thú chơi hoa thủy tiên" của nhà báo lão làng Nguyễn Hà thuở sinh thời chỉ gồm có mấy trăm chữ đăng trên số tết của một tờ tuần báo lại được trả nhuận bút khá cao. Mọi người nói đùa, mỗi chữ đáng giá bạc ngàn. Còn nhà báo Nguyễn Hà thì rằng, đó là nhờ ở lộc của ông cụ thân sinh một cụ đồ nho Hà Thành từng một thời đam mê thú chơi tao nhã ấy. Nhà báo Nguyễn Hà kể rằng, mỗi năm vào dịp cuối tháng một, tức tháng mười một âm lịch, cụ đồ thường trở qua, trở lại ngày đôi ba lần trên phố Hàng Buồm, Phúc Kiến (Tức Lãn Ông bây giờ) để chọn mua bằng được một "Bắp" tức một thùng củ thủy tiên do các nhà buôn Tàu bày bán. Có nhiều loại lắm. Cứ củ càng to thì càng đắt tiền. Rồi sau đó, cụ tìm cách lánh hẳn việc nhà, từ chối không tiếp khách khứa trong hàng tuần liền, để chăm lo chuyên chú cho việc gọt tỉa thủy tiên. Khi ấy, có ai sơ ý hỏi han điều gì, cụ đều không trả lời, coi như người đã nhập thiền vậy. Nhà báo Nguyễn Hà hồi nhớ: Sau khi gọt, các lát cắt của củ hoa sẽ chảy nhựa, cụ tôi phải đem củ thủy tiên ngâm úp vào nước để nhựa tiết ra tan chảy hết.

Gọi là "ngâm cầu". Ngâm khoảng ngót một ngày thì được. Trong thời gian ngâm thì cứ dăm sáu giờ đồng hồ lại phải rửa cho củ thủy tiên sạch nhớt. Nếu không sạch nhớt thì củ sẽ bị thối. Mỗi năm cụ giở ra gọt thủy tiên thì cứ lục đục suốt đêm, hầu như chả chợp mắt lúc nào.

Hàng năm, cứ vào dịp đầu tháng chạp âm lịch, khi những cơn gió bấc cuối đông dường như đã chùng lại trước những làn hơi ấm đầu xuân mơ màng, ấy là lúc những người chơi hoa sẽ vào cuộc mới. Những củ thuỷ tiên khô do lái buôn đem về từ các tỉnh duyên hải Nam Trung Hoa, bây giờ sẽ được đem ngâm nước cho căng mọng và nhú mầm. Nom chúng tựa như những củ hành tây vừa ra giống. Sau đó, họ, những người chơi thủy tiên chuyên nghệ sẽ tìm lấy một chốn kín đáo, khuất nẻo để chuyên tâm lo việc gọt tỉa hoa.

Gọt tỉa thuỷ tiền, đó chính là một công đoạn tỉ mỉ, khó khăn, phức tạp và rắc rối nhất trong cách chơi thuỷ tiên cổ truyền Cụ giáo Lê Đăng Nghị còn nhớ rất tỷ mỷ:

- Phải chọn đoán cho đúng phần mặt chính của củ. Nếu vô ý gọt trái mặt, củ thuỷ tiên sẽ đâm mầm tréo nghẹo, mắt hết tư thế đẹp. Mà khi gọt phải lựa đôi tay cho khéo, kẻo phạm phải chỗ đọt mầm tương lai, củ thuỷ tiên sẽ bị hoại nát mà thui chột mất dò hoa.

Lại phải gọt hướng sao cho các mầm hoa sau này sẽ vươn theo thế đã chọn. Không để chúng trổ lung tung, vô lối. Toàn là phải dò dẫm, đoán định, phỏng chừng, ấy mới là khó chứ.

Sau công đoạn ngâm cầu, người ta bắt đầu giai đoạn dưỡng hoa. Chủ yếu là dưỡng bằng nước sạch. Người chơi hoa ngâm củ thủy tiên trong các bát gốm hoặc sứ rồi hằng ngày bắt đầu quá trình chăm sóc rất tỷ mẩn, cẩn trọng. Sau mỗi lần gọt sửa, củ thuỷ tiên phải được lau rửa bằng nước nhiều lần cho sạch nhựa. Các cụ ta thường rửa thuỷ tiên bằng chổi lông gà hay chối tóc. Như thế vừa sạch sẽ, vừa tránh xây xước, tránh làm tổn thương tới các mầm đọt non và cả bộ rễ mới kịp nhú. Củ thủy tiên từ lúc nảy mầm, đâm rễ, trổ giò, kết nụ phải trải qua ba bốn lần gọt tỉa, sửa sang và hàng vài ba chục lần thay nước mới. Thủy tiên là giống hoa ưa sạch sẽ, tinh khiết. Bởi thế, nó cần được uống nước trong hàng ngày và phải được đặt ở nơi thoáng mát, không vương bụi bậm, không ướm hơi xú uế.

Bà Quách Hồng Huyền là con gái làng Yên Phụ lên làm dâu làng Nghi Tàm. Cả đôi bên nội ngoại của gia đình đều có nghề gọt tỉa thủy tiên. Có lần bà Huyền còn tìm sang tận Phúc Kiến - Trung Quốc để cất thủy tiên về Hà Nội làm hoa thủy tiên của nhà bà.

Huyền cũng thuộc diện làm đại trà, giá bình dân chứ không phải thuộc diện cắt tỉa nghệ thuật kỹ càng, giá đặc biệt. Nhưng được cái bà Huyền có tài đoán đúng cho thủy tiên nở trong khoảng từ chiều ba mươi đến sáng mồng một ta, đúng mong muốn của khách chơi hoa nên bán buôn khá đắt hàng. Từ năm 2000, bà bắt đầu mở rộng việc kinh doanh thủy tiên, có năm bà làm tới dăm trăm bát thủy tiên, nhưng sau phải giảm dần.

- Đau lưng lắm bác ạ. Làm nhiều không chăm chút được hàng ngày, cây nó không thể đẹp được. Có khi lúc cắt gọt mong nó trổ hoa thế nọ nhưng nó lại trổ ra thế kia. Con cái dỗ mãi nó cũng chả thích theo nghề. Năm Canh Tý vừa rồi là năm nhuận, đắn đo cẩn thận lắm rồi mà người tính chả bằng trời tính. Cả Hà Nội thủy tiên đều nở sớm. Hăm nhăm hăm bẩy tết mà đã trắng rực cả chợ hoa. May nhà em còn vớt vát được vài trăm bình nở hăm chín ba mươi.

Hút chết bác ạ. Với lại, trước đây Nghi Tàm cũng mấy chục nhà làm thủy tiên nhưng rồi đa phần cũng thu hẹp dần vì nhà cửa cứ xây cho thuê hết, đất cát chả còn mấy mà lấy chỗ làm hoa.

Giờ đây, mỗi nhà kinh doanh hoa thủy tiên ở Hà Nội đều có cách thức và bí quyết riêng để chăm sóc cho cây thủy tiên ở giai đoạn ươm cây, trổ nụ đầy khó khăn này. Ví như củ nào kém đâm rễ, phải đem vùi trong cát ẩm. Cát phải được đãi rửa thật sạch. Thế mà trước khi vùi củ hoa vào trong bồn cát, lại phải đặt nó trong một tấm vải bông mới và sạch tinh, để chống nhiễm khuẩn làm thối bộ rễ. Khi cụm hoa trổ đủ số mầm chính, ba, năm, bẩy, chín - số lẻ bao giờ cũng hay hơn: tam đa, ngũ phúc, thất hiền, cửu long, cụm hoa cần phải được đặt trong bình thuy tinh hay bát sứ, cho cụm cây cố định dáng vẻ. Lâu nay có bát nhựa thay thế vừa rẻ vừa đỡ sứt vỡ.

Như thế, các mầm cây và giò hoa, cánh lá mới vươn lên thẳng ngay, không bị xiên lệch, vẹo vọ. Bởi xiên lệch vẹo vọ là phạm phải một điều tối ky trong kỹ thuật tạo dáng thủy tiên. Hoặc như ở các nhà kinh doanh thủy tiên chuyên nghiệp, họ thường đặt những phên tre đan thành giàn, ngâm xăm xắp trong bể nước. Mỗi ô mắt phên sẽ thay cho công dụng giữ thăng bằng, cố định cho cụm hoa như ở trong bình, trong bát nhỏ, rất tiện cho việc thay nước hoa hàng loạt mỗi ngày. Lúc nào chuẩn bị đưa hoa ra chợ, mới nương nhẹ tay cho cụm hoa vào các bình bát. Tôi đã tận mắt trông thấy giàn dưỡng hoa đan bằng lưới tre hình ô vuông thả trên bể nước nông có đường dẫn nước vào ra của gia đình anh Nguyễn Văn Thanh ở làng Thanh Nhàn. Trong thời gian dưỡng thủy tiên chừng 25 đến 30 ngày, anh Thanh phải chăm thủy tiên như chăm con mọn:

- Hàng ngày phải thay nước mới và rửa sạch củ hoa, rễ cây, lá cây, mỗi ngày ít nhất một lần. Nếu trời nắng nóng thì rửa cây thay nước hai ba lần. Mệt lắm. Nhưng nếu lơ là một chút thôi là nhựa các vết cắt lại dễ làm thối nước, thối củ. Rồi mỗi ngày lại phải để ý sắp xếp lại lá, hoa và rễ sao cho khóm thủy tiên phát triển hài hòa, đẹp mắt.

Tuy nhiên, việc chăm sóc hoa trong giai đoạn này thật chẳng dễ dàng chút nào. Nhất là vào những năm gần đây, trong điều kiện thời tiết và môi trường Hà Nội có rất nhiều biến đổi bất lợi. Dân ta đi chợ mua hoa thủỷ tiên, khi hỏi đến giá cả, thường chê đắt rẻ, song ai đã từng tận mắt theo dõi những công việc của người làm hoa và cùng chia sẻ với họ bao bất trắc, gian nan của nghề hoa, mới cảm nhận rõ giá trị của mỗi dò hoa quý. Tháng chạp năm Đinh Sửu trước tết Mậu Dần 1998, thời tiết nước ta không thuận, mưa nắng thất thường, có buổi nồng nực hơn cả mùa hè. Môi trường và nguồn nước nhiều khu vực lại bị ô nhiễm nặng. Hàng chục nhà kinh doanh đã cầm chắc lỗ vốn bạc triệu. Riêng đợt thủy tiên mới ra giống của nhà anh Thanh ở làng Thanh Nhàn là có chút hứa hẹn cho triển vọng kha khá. Song chủ nhân của chúng cũng không giấu nổi nỗi lo âu, thấp thơm. Nhất là khi anh đã rót vào đợt thuỷ tiên ấy số vốn ban đầu vài chục triệu đồng. Đó là chưa kể tới các đợt hoa thí điểm hồi trước, khi được, khi mất, hồi anh Thanh mới bước vào nghề và Hà Nội mới gây dựng lại thú chơi thuỷ tiên.

Chừng vào khoảng tết ông Công, ông Táo, khi hơi xuân nồng nàn đã vây bọc khắp không gian, những giò thuỷ tiên sớm sẽ trổ hoa đợt đầu, đưa hương thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng. Song mà vào ngày trước, những người chơi hoa thủy tiên sành điệu, cứ nhất định tìm cách hãm cho hoa nở đúng vào thời khắc giao thừa, mới cho là đúng phép. Bà Phúc Lâm Đỗ Thị Dung nhà ở phố Hàng Đồng cũ, là con cụ Ký Hanh, một viên chức dưới thời Pháp thuộc. Bà vẫn hãy còn nhớ cách thức thúc hoa và hãm hoa của cụ Ký Hanh khi xưa:

- Mỗi khi đến ngày 28, 29 giáp Tết Nguyên Đán mà nụ hoa coi vẻ còn se sắt, chưa có dáng sắp nở, thì phải lấy nước âm ấm thay luôn, để thúc nụ chóng mập. Còn nếu như thấy nụ hoa đã ra chiều muốn mở cánh, thì phải lấy chút lòng trắng trứng gà, phết một đôi lượt bên ngoài nụ, nhằm hãm cho hoa nở đúng lúc giao thừa. Thế mới gọi là đại cát cho năm mới.

Còn nếu như trong nhà không có người rảnh rỗi, hoặc là có người rảnh rỗi nhưng chẳng thành thục với nghệ thuật gọt tỉa thủỷ tiên, thì vào dịp giáp tết âm lịch, người ta sẽ tìm lên chợ hoa Cống Chéo - Hàng Lược. Nơi ấy, giữa một vườn đào quất, cây cảnh, hoa tươi rực rỡ muôn màu, những bình thủy tiên bé nhỏ, xinh xắn với vẻ đẹp khiêm nhường, duyên dáng, với hương thơm cao sang, độc đáo, luôn là điểm hấp dẫn bước chân của những người hâm mộ.

Những tụ điểm bán hoa thủy tiên mới nở rộ khoảng mươi lăm năm nay là chợ hoa Quảng An, chợ hoa Hoàng Hoa Thám, chợ hoa Vạn Phúc, và nhất là dọc đường phố Từ Hoa bên làng Nghi Tàm, một thủ phủ của thủy tiên Hà Nội.

Phần lớn khách chơi hoa thuy tiên vào dịp tết, thường là các cụ ông trí thức, văn nghệ sĩ cao tuổi. Có thể hiểu như là, họ đã từng trải qua biết bao thăng trầm, cũng như nếm trải biết bao hương vị đắng ngọt của cuộc sống, của nỗi buồn, niềm vui. Cái điểm dừng thủy tiên hoa, phải chăng là nơi ẩn chứa, nơi gửi gắm những điều tâm sự, những nỗi ước mong cao xa và thầm lắng khó nói thành lời ở cái tuổi ngoại tuổi tri thiên mệnh? Còn tôi, mỗi năm vẫn thường được cậu con trai đỡ đầu là giảng viên trường Đại học khoa học xã hội nhân văn đều đẳn đem biếu đôi bát thủy tiên, một bát dâng trên ban thờ, một bát trưng ở phòng khách. Thật ưng ý quá. Sáng mồng một tết năm nào cũng vậy, tôi thường mặc tấm áo dài mới chụp ảnh bên bình hoa thủy tiên rồi đưa FB chúc mừng họ hàng, bầu bạn gần xa.

Ngày xửa ngày xưa, Hà Nội từng có những kỳ thi hoa thủy tiên vào dịp đón xuân tại đền Bạch Mã và Ngọc Sơn cổ kính. Cụm hoa nào đoạt giải, được cả sắc hương lẫn dáng thế, sẽ được đưa lên kiệu rước trên phố Hà Nội cho bàn dân chiêm ngưỡng, tôn vinh.

Khi thủy tiên nở hoa, mỗi cụm hoa mang một dáng vẻ khác nhau theo lối đặt tên của các cụ xưa. Dáng phượng múa, dáng rồng bay, dáng hạc chầu, dáng tiên sa... Mỗi cụm hoa thực sự là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn độc đáo của bàn tay người yêu hoa, và là kết quả của nghệ thuật gọt tỉa thủy tiên khởi từ trước đó hàng tháng trời. Chính bởi vậy, người xưa mới ham thích thú chơi thuỷ tiên, thú chơi giàu sáng tạo và giàu tính thẩm mỹ, nghệ thuật. Ông Nguyễn Văn Chi, một chủ vườn hoa cảnh nổi danh ở làng Định Công chậm rãi:

- Các cụ ta xem thủy tiên khi nở hoa như một bộ mâm bạc chén vàng của nhà vua. Bình chọn một cụm thủy tiên đẹp, phải xét toàn diện. Lá phải xanh đều và uốn lượn theo hình thế nhịp nhàng chứ không thẳng đuồn đuỗn. Các dò hoa phải cao thấp hài hoà, chứ không đâm tua tủa ngang mặt nhau, rễ phải rậm, dài, mềm mại và trắng muốt, không bợn một nốt nâu ủng, không đan rối lẫn nhau, trông hệt như bộ râu của một lão ông đại thượng thọ. Thế mới là tuyệt hảo.

Việc ấy, ta cũng có thể hình dung lại qua câu chuyện của nhà văn Vũ Bằng in trong cuốn Mê Chữ của ông. Trong văn chương nghệ thuật, người Á Đông thường giữ quan niệm "Quý hồ tinh bất quý hồ đa". Trong chiếc bình pha lê trong suốt, cụm thủy tiên bé nhỏ lộ vẻ đẹp thơ ngây, trong trắng, dịu dàng, tựa như một bầy tiên vừa từ thượng giới bay xuống tắm mình trên dòng suối mát, giữa một cánh rừng cổ tích nguyên sơ.

Những năm đầu thế kỷ XXI, khi con đường ven hồ Tây chạy men làng Nghi Tàm được khai thông và đặt tên là phố Từ Hoa, thì người Hà Nội đã có cơ hội tìm lại những ngôi nhà của các nghệ nhân hoa cảnh nổi tiếng để đặt hoa thủy tiên đem về chơi Tết và đem đi biếu Tết. Nghệ nhân Nguyễn Văn Ninh, tức cụ Hai Ninh ở tuổi ngoại chín mươi, ngoài kỹ nghệ trồng địa lan và trà hoa nổi tiếng, đã kịp truyền lại cho các cháu nội kỹ nghệ tỉa hoa thủy tiên rất cầu kỳ, công phu, tạo nên những bình hoa duyên dáng, đẹp đẽ:

- Hoa phải là hoa đơn, cánh dõng dạc, nhuy phân minh. Hoa kép rối cánh, lại kém thơm, không mấy được chuộng. Lá thủy tiên cong cong hướng ra bên ngoài, lá thấp để tôn hoa cao. Hoa đan xen trên dưới hài hòà. Gọt củ lúc đầu mà sau được đúng như đoán định là không dễ đâu. Nhất thiết phải là dò hoa chớm nở đúng lúc giao thừa, mới thập phần hoàn hảo, toàn bích. Ngày trước, ở Hà Nội, thường có các cuộc thi hoa thủy tiên ở đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm và đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm. Hễ gia đình nào thắng giải ở hội thi hoa thủy tiên đền Ngọc Sơn hay đền Bạch Mã thì coi như đạt được niềm vinh hạnh hiếm có trong đời người. Họ thường tổ chức buổi rước hoa, khao giải linh đình lắm.

Vài mươi năm gần đây, thủy tiên đã hiện diện trên khắp các chợ hoa Hà Nội. Lọt giữa muôn hồng ngàn tía các loại hoa cảnh đông tây nam bắc, nước trong nước ngoài, những bình thủy tiên nhỏ bé, khiêm nhượng vẫn thu hút sự say mê, đắm đuối của những kẻ yêu những nét đẹp xưa cũ Hà Thành. Cụ bà phố cổ áo kép hoa tóc búi trễ khăn len quàng cổ ngắm đi ngắm lại bình thủy tiên hàm tiếu:

- Ông nhà tôi lúc còn sống yêu hoa thủy tiên lắm, toàn tự gọt hoa lấy. Nhưng ông mất lâu rồi. Năm nào tôi cũng mua một bình cúng trên ban thờ cho ông thỏa nguyện. Hoa mua ở chợ không đẹp bằng ông nhà tôi tự gọt tỉa, nhưng cũng gọi là cho có. Không thì cứ lâu nay, tại ngôi nhà cổ 87 Mã Mây đã hình thành Câu lạc bộ Hoa thủy tiên Hà Nội bao gồm hàng chục thành viên cả lớn tuổi lẫn nhỏ tuổi. Mọi người truyền cho nhau các thức chọn củ, tỉa hoa, chăm sóc hoa khá kỹ lưỡng. Có một lần tôi được mời lên ghi hình cùng Đài PT - TH Hà Nội trong chương trình Người Tràng An - Người Hà Nội tại nhà 87 Mã Mây. Tôi tình cờ được xem ngắm mấy mẫu hoa mà các thành viên trong CLB hiện trưng bày tại đó. Cảm quan ban đầu là các khóm hoa đều có hình thái ý tứ riêng rất điệu đà, duyên dáng, rất khác với các khóm thủy tiên bầy nhan nhản ngoài phố chợ, Thế rồi trên mạng xã hội, cũng xuất hiện nhiều bạn trẻ đam mê học hỏi cách gọt sửa thủy tiên, bất chấp nhiều kỳ thất bại ban đầu, củ chẳng ra củ, cây không ra cây. Có được mẫu hoa nào tạm ưng ý, các bạn ấy sẵn sàng chia sẻ chung vui với cộng đồng mạng. Tin chắc một ngày nào đó, các bạn sẽ thành công như ý với niềm đam mê nhiệt huyết, thật tâm.

Thế là một thú chơi cao sang vào dịp tết cổ truyền dân tộc đã và đang trở lại với người Hà Nội sau cái khoảng cách thời gian dằng dặc bằng cả mấy cuộc chiến tranh liên miên cộng lại, với biết bao đổi thay về thời cuộc trên đất nước ta.

Với mùi hương thơm ngát mà không nồng nã, ngạt ngào, quyến rũ mà sâu thẳm, kín đáo, dịu nhẹ mà chẳng nhạt nhoà, pha tạp, hương thủy tiên thật xứng là một thứ hương thanh cao, nồi trội trong thời khắc thiêng liêng của đất trời khi chuyển sang năm mới.

Trong không khí xum họp gia đình của ngày đầu xuân, hương thuỷ tiên lẫn trong làn khói hương trầm ấm áp, nồng đượm, hoà trong hương cam Canh, bưởi Diễn thơm thảo, ngọt ngào. Tất thảy, tạo nên một hương vị tết nhất cổ truyền đặc biệt Hà Nội, cho những kẻ xa quê khó cầm lòng khi tưởng đến.

Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Bài 5: Đạo pháp bất ly thế gian pháp

Bài 5: Đạo pháp bất ly thế gian pháp

Suốt hơn 2000 năm lịch sử, Phật giáo Việt Nam luôn lấy phương châm nhập thế và phát huy tinh thần "Đạo pháp bất ly thế gian pháp" làm giá trị cốt lõi.
|<<1>